Biện hộ của người nuôi hoài niệm

Xin giới thiệu đến quý độc giả phần mở đầu trong bản thảo CON CÁI CỦA THẾ GIAN & THÀNH PHỐ BỊ LÃNG QUÊN của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên

Thực tại của hoài niệm

Có một giống loài sinh ra để sống cho tương lai. Nhưng cũng có một giống loài sinh để thuộc về quá khứ. Hai “giống loài” ấy cũng có thể là trạng thái tâm lý của hai giai đoạn sống trong đời một con người.

Với giống loài thứ nhất, nó tìm thấy ý nghĩa trong mọi phương án, giải pháp có tính chuẩn bị cho thực tế sắp đến. Nó sống ở hiện tại, nhưng nhoài về phía trước để chuẩn bị, tham vọng chiếm lĩnh những thứ thời gian chưa mang đến. Với giống loài thứ hai, nó thấy hiện tại không đủ làm thỏa mãn đời sống tinh thần, tương lai là cõi bất định không có gì đáng đợi chờ. Nó nhìn những ngày sắp tới với đôi mắt hoài nghi và hư vô chủ nghĩa, với cái nhìn u ám như thể thoái hóa sẽ là diễn trình tất yếu. Nó quay về nương náu và tiêu thụ thời gian bằng cách quy hồi ký ức, dò tìm nguồn dinh dưỡng sống và biến ký ức thành vĩnh hằng. Nó thấy nguôi khuây cảm giác chao đảo khi đặt chân trên một mặt đất chất chồng những cơ tầng, trầm tích.

Tôi gặp loài thứ nhất sinh sôi ở khắp mặt đất, những kẻ tạo nên màu sắc, sự rộn ràng tươi mới cho địa cầu. Họ kiêu hãnh vì góp phần tạo ra nguồn năng lượng dồi dào, giai điệu nồng nàn của cuộc sống. Tôi yên tâm về họ. Thượng đế yên tâm về họ để có thể đi nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, chủ nhật, thậm chí suốt tuần. Vì vắng Người, thế giới vẫn không ngừng được chăm chỉ nhào nặn, không từ đất sétLời, thì cũng từ những thứ sanh ra từ tâm tính manh động của bọn người chẳng thể chịu ngồi yên.

Thể nào họ cũng sẽ sống được trong thế giới này, trừ phi chính họ thấy trống rỗng, vô nghĩa và khước từ nó.

Tôi gặp trong đêm hoang vu dưới mái phố những bước chân lưu lạc của giống loài ưa hoài niệm. Họ thất thểu vỉa hè như những kẻ bên lề nhiều năm mất ngủ. Họ buộc cái nhìn lên những phế tích rêu phủ khi thị dân đã chìm vào những giấc mơ chật chội. Họ chết lặng bởi một mùi hương quen nơi góc quán. Họ chậm rãi và lơ ngơ trước thực tại điên cuồng. Và họ tìm ra sự thiết tha sống khi chớp bắt được một tín hiệu, một tần số nào đó, dù mong manh để gắn kết với của ký ức.

Họ vẽ nên lịch sử ký ức, thậm chí, dệt nên phiên bản của nó qua các huyền thoại. Và họ an tâm rằng, mình đã thuộc về thời gian, đã nhốt thời gian vào những món cổ vật vàng son để có thể mang ra ngắm nghía, chuyện trò về cái hữu hạn lẫn vô hạn, sai khiến thời gian co giãn bằng một luật chơi tâm tưởng tự mình thiết lập và chịu sự điều khiển của nó, tự nguyện.

Có lẽ Woody Allen đã giấu sự thông cảm hay thương cảm bên dưới bề mặt giễu nhại giống loài hoài niệm khi dựng lên nhân vật văn sĩ Gil Pander trong bộ phim giàu chất thơ – Midnight in Paris. Một văn sĩ hạng hai, đến Paris hiện đại để viết thuê kịch bản cho Hollywood bỗng chốc lạc về thời gian của một Paris hoàng kim thập niên 1920-1930, thời của Jazz, tuổi trẻ và “hội hè miên man”, thời của Ernest  Hemingway, của Scott Fitzgerald, Salvador Dali… Những hào quang quá khứ về một “kinh đô ánh sáng” được dệt từ khí hậu của những hồi ức và các tiểu thuyết đã tạo ra một sức hút kỳ lạ. Chúng ám ảnh và cồn cào bên dưới một Paris du lịch hóa, một Paris sản phẩm hóa hoài niệm.

Một Paris điểm đến và gift (quà tặng) hào nhoáng cho những cặp tình nhân sắp cưới, liệu có gì đáng nói?

Chiếc xe cổ đưa anh chàng văn sĩ Gil Pander đi về các hộp đêm, salon nghệ thuật một thời coi bộ mang màu sắc fantasy (huyền ảo), nhưng nó là cơ chế tâm lý của bọn người dễ dàng bị trật ra khỏi thực tại vì hàm lượng hoài niệm trong máu đã đến lúc đầy tràn, chế ngự, điều khiển tâm trí, phủ lên cái nhìn của họ những màn sương mù bí ẩn mà quyến rũ, khiến họ rơi vào nguy cơ không tìm thấy đường về.

Thất lạc giữa thực tại trần trụi và vô phương hòa giải. Số phận của họ. Sự tự ly khai của họ. Khoái cảm đau thương khôn nguôi của họ.

Một ngày mưa ở khu Hòa Bình. Ảnh: Tư liệu

Một chuyến xe về thành phố trong ký ức

Trong những ngày ở Đà Lạt chìm đắm trong khối dữ liệu về một tiểu Paris đã mất, tôi đã gặp lại Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Khánh Ly, Đỗ Long Vân, Phạm Công Thiện, Lê Uyên Phương… của những năm hai mươi tuổi. Họ vẽ tranh, viết nhạc, đi dạo, ở trọ và phóng bút trong những tiểu luận, phê bình với thứ ngôn từ quyến rũ và giàu khí chất. Họ của Đà Lạt một thời. Như Hemingway, của Fitzgerald, Dali của Paris một thời. Họ ngồi đó, chỗ ngồi tối trong góc hẹp café Tùng, Văn, Lục Huyền Cầm, đàm luận về chiến tranh, thời cuộc, văn chương nghệ thuật. Họ đi lại trên phố, không nghênh ngang bởi trong hồn đã chất đầy những ngang tàng, tự do trước một hiện thực đầy khói thuốc súng.

Họ có một Paris ở Đà Lạt, để Đà Lạt được là Đà Lạt.

Đi đi anh đưa em vào quán rượu

Có một chút Paris

Để anh được làm thi sĩ

(Dạ khúc – Thanh Tâm Tuyền)

Em đã ước chi vào một đêm khuya, có chuyến xe đi ngang góc quán Tùng và chở em về cái thời vàng son đã mất. Cô gái Đà Lạt nói thoáng bên tai tôi, rồi vụt đi trong gió khuya, khiến tôi nghĩ cô ấy vừa bị thổi lạc về quá khứ. Tôi nghĩ đến người bà mù của Nastenka trong Những đêm trắng của Fyodor Dostoyevsky. Bà ấy chìm đắm trong hoài niệm một thuở xa xưa – “Thời xưa bà trẻ hơn, mặt trời thời xưa ấm áp hơn, váng sữa thời xưa không nhanh chua đến thế ”.

Tôi có lỗi khi ví cô gái tuổi hai mươi ở Đà Lạt, thế hệ vá víu quá khứ qua những góc quán và thời trang retro, vintage style (phong cách thời trang, thiết kế theo tinh thần hoài niệm) để tìm cách gắn bó với thành phố của mình với một bà ngoại trên xứ Nga thế kỷ thứ XIX đầy lẩm cẩm và giáo điều. Nhưng tôi sợ mình, một kẻ nghiện hoài niệm, rồi cũng như một Gil Pander thất thểu bên đường chờ chuyến xe ấy quay về thật. Chuyến xe về với Night Club thời Khánh Ly mới hát Đoàn Chuẩn, Phạm Duy và rụt rè trước những sheet nhạc viết tay của chàng nhạc sĩ thất tình họ Trịnh, thời Đinh Cường vẽ Thiếu nữ xanh ở nhà trọ trên đường Hoa Hồng và Hoàng Anh Tuấn chỉ làm thơ tình lãng mạn hơn cả Nguyên Sa, thời Phương dẫn Lê Uyên đi qua phố ban trưa trong chất ngất cơn say để sương khói thở ra những điệp khúc nồng nàn…

Thời ở Tùng người ta còn ngồi yên như tượng, không chen chúc và tranh thủ selfie với gậy gộc và trang bị công nghệ đáp ứng nhu cầu tự yêu mình của con người thời đại tự kỷ chủ nghĩa.

Nhưng tôi đang sống trong dữ liệu ký ức của ai, khi Đà Lạt vẫn luôn là một Đà Lạt của người trẻ trong mọi thời. Cũng như người ta đã luôn là những tuổi trẻ lạc lối giữa một Paris của Remarque, Modiano, Hemingway rồi tiếp tục lạc lối trong trò giễu sâu kín của Woody Allen.

Đã đến khi giống loài hoài niệm trỗi dậy, họ tái hiện một quá khứ lẫm liệt, để lẫm liệt buồn và lẫm liệt tự trào trước một hiện thực trần trụi và điên rồ.

Ảnh: NVN